Quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng cam kết thực hiện Chính sách chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 "Đúng luật - Đúng thời gian - Chất lượng"
 
 
 
 
 
 
Kỷ niệm 65 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9

 

Tới mục Đảng bộ Quận Sơn Trà

  

 

 
 
 
 
 
 
22/07/2010 - 10:48

      Lúc đầu chỉ có phần lễ mà không có phần hội. Phần lễ được tiến hành một cách đơn giản nhưng đầy không khí trang nghiêm thành kính. Trong quan niệm của những người đi biển thì “cá Ông”. Ở trong tiềm thức của mỗi người dân đều coi “cá Ông” là biểu tượng về sự thiêng liêng, uy quyền. Đồng thời mọi biểu hiện của cá đều là sự dự báo chính xác về mọi điều tốt, xấu, may rủi cho một năm, một vụ mùa hay một sự kiện liên quan tới nghề biển.

 

      Từ những lý do trên cho nên lễ hội Cầu Ngư được tổ chức nhằm bảy tỏ lòng thành kính của ngư dân vùng biển với “cá Ông”, cầu mong sự che chở, tốt lành bội thu và cũng như để xua đi mọi điều xấu. Lễ hội này còn là dịp để người ta cúng tế những vong hồn oan khuất và vĩnh viễn ở lại với biển nhằm xoa dịu nỗi đau của những người ở lại.

 

      Lễ hội cầu ngư cũng là một trong những sinh hoạt văn hoá mang đậm yếu tố tâm linh của ngư dân vùng biển Sơn Trà. Nó gắn với các tín ngưỡng thờ cá - là vật tổ từ xa xưa của ông cha ta trong những ngày đầu di dân về phía biển. Trong Đại Nam Nhất Thống Chí thừa thiện phủ có ghi “cá voi được gọi là cứu ngư” đầu tròn, nơi trán có lỗ phun nước da đen, trơn láng không có vảy, đuôi có 2 vây xòe ra như đuôi tôm, cá tánh từ thiện hay cứu người đi biển mắc nạn. Cá có kích thước to lớn đủ sức mạnh vượt bão tố cứu người sống sót. Ngoài việc cứu nạn dân chài, cá còn giúp ngư dân đánh bắt hải sản. Mỗi khi cá Voi xông tới đàn cá để ăn thì ngư dân vội vàng cho ghe chạy theo sau bủa lưới. Khi thấy ngư dân cá Voi tránh ra xa nhường cho ngư dân thu hoạch. Dân làng gọi cá voi bằng những cái tên thật tôn kính như : Ông Đông Hải, cá lớn gọi là “Ông lớn” cá nhỏ gọi là “Ông cậu”, cá Voi cái gọi là “Cá Cô”, tùy theo hình dạng của đầu cá voi người ta gọi những cái tên như “Ông Chuông”, “Ông Kìm”, “Ông Nhồng” ông ở ngoài khơi gọi là “Ông khơi”, ông ở trong bờ gọi là “Ông Lộng”.

 

      Sự tôn kính của người dân Sơn Trà dành cho “cá Ông” không chỉ trong tiềm thức mà còn bằng cả những hành động thực tế. Trong khi đánh bắt cá nếu lưới đang vây mà người ta phát hiện thấy trong mẻ cá đó có “cá Ông” dù nhỏ thì lập tức lưới được mở toang cho cả đàn cá đi. Nếu như có nhiều đến mấy thì cũng phải bỏ đi vì ai mà cố tình đánh cá lên thì hành động đó bị coi là xúc phạm “ngài” và sẽ bị trừng phạt. Có trường hợp do vô tình “cá Ông” bị bắt lên cùng với những loài cá khác, nếu “cá Ông” còn sống thì phải lập tức thả xuống. Còn nếu “cá Ông” đã chết thì đội thuyền đó phải nhanh chóng vào bờ và tiến hành tang lễ trang trọng theo trình tự như người chết. Đúng 3 năm người ta làm lễ quật mồ hốt cốt gọi là lễ “thỉnh ngọc cốt”, lấy xương cá rửa bằng rượu trắng (rượu gạo) sạch sẽ, xếp vào quách rồi đưa vào lăng để thờ cúng.

 

      Với ân đức của cá Ông nên hầu hết các phường trên địa bàn quận đều xây dựng Lăng Ông (Đền thờ cá Ông là cơ sở tín ngưỡng và là nơi diễn ra lễ hội hàng năm của ngư dân). Tuỳ theo địa phương, đền thờ cá Ông được gọi với các tên khác nhau : Dinh Ông, Lăng Ông hay Miếu Ông. Nhưng nhìn chung, về đặc điểm kiến trúc đền thờ (lăng) cá Ông có dáng dấp của một ngôi đình. Đền vừa có chức năng tín ngưỡng (nơi trú sở của thần linh) lại vừa có chức năng thế tục (nơi vui chơi, giải trí đãi khách trong ngày cúng lễ). Lăng được xây dựng gần bờ biển, quay mặt về hướng Đông (hướng biển như: Thọ Quang, Mân Thái, Phước Mỹ) hoặc về hướng Tây (hướng sông Hàn như : Nại Hiên Đông, An Hải Tây).

 

      Lăng Ông có 3 gian chính: gian tiền đường, gian chính diện và gian tiền đàn hậu tẩm. Hiên rộng, trước gian tiền đường được trồng 4 cây trụ lớn, trên mỗi cây cột có khắc câu thơ ghi ân đức:

 

                          Đại                                Cứu                           Dựng                                 Ân
                          hải                                 độ                              Lăng                                  sâu
                          thần                               thuyền                      cung                                  tiền
                          Ngư                               nhân                         phụng                                tại
                          năng                              lúc                             Ngư                                   thấu
                          hữu                                thiên                         dân                                    tương
                          trấn                                tai                               lập                                     lai

 

     Tiếp đến gian tiền đường, phía trước có 2 câu đối đỏ khắc trên 2 cây cột của gian tiền đường :

 

  Đức                 Công
  độ                     hoàn

  cứu                    tế
   sanh                thế
   vạn                   thiên
   cổ                      thu
   âm                   phước
    ba                       thọ
    vĩnh                   vô
    lại                    cương

 

      Hai bên đặt 2 chiếc ghe nhỏ biểu tượng cho nghề đánh bắt hải sản; Sau gian tiền đường là gian chánh diện, nơi cất giữ cốt cá Ông (cá voi) đây là nơi thờ cúng ông, trên bàn thờ có đủ bộ lư đồng cùng với “Hạc hầu lọng chủ” đứng hai bên uy nghi; Ngoài ra, 2 bàn thờ nhỏ hơn đặt 2 bên tả ban, hữu ban thờ tiền bối, hậu bối cùng các vị thần có công đức. Phía sau gian thờ chính có dựng 4 bộ xương sườn cá Ông (được đặt lúc tổ chức lễ) nằm dưới là những chiếc quách đựng bộ xương cá Ông, dân làng thường hay gọi là “Ngọc cốt”. Lăng có diện tích khoảng 8m x 12m, trước lăng là khoảng đất trống, rộng, đây là nơi để dân làng hội tụ tổ chức biểu diễn nghệ thuật, múa nghi lễ, tổ chức lễ hội cầu ngư. Cả phần lễ và phần Hội diễn ra 7 ngày, 7 đêm (nay chỉ tổ chức 3 ngày 3 đêm).
Thời gian tổ chức lễ hội cũng tùy thuộc mỗi địa phương, không có ngày thống nhất chung, mà mỗi nơi tuỳ thuộc vào ngày cá Ông “luỵ” đầu tiên, hoặc ngày nhận sắc phong vua ban, để tiến hành lễ, coi như là một hình thức “ngày giỗ Ông” vậy.

 

      Với ngư dân làng nghề Thọ Quang, Mân Thái thường tổ chức vào ngày 26 tháng Giêng âm lịch, sau dần điều chỉnh sang đầu tháng 4 dương lịch hàng năm nhân kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm làng cá. Trong lễ Cầu Ngư, nghi thức Đại Lễ chỉ diễn ra 3 năm một lần, sau đó tùy theo tình hình kinh phí, những năm tiếp theo, nhân dân chỉ tổ chức Tiểu lễ hoặc Trung lễ, trong đó Tiểu lễ cúng đức ngư ông Thần biển, không có nghi thức múa hát hoặc xướng văn. Trung lễ khác Tiểu lễ là có thêm văn tế, có nghi thức cúng như Đại lễ, nhưng không có hát Bả trạo. Còn nghi thức của ngày Đại lễ được tổ chức công phu hơn, để có được ngày Đại lễ thành công, nhân dân phải chuẩn bị trước đó 20 ngày, ngày đầu tiên là họp các chư phái tộc của làng, Ban đại diện ngư dân, Ban phụng sự di tích Lăng Ông và chính quyền địa phương, trong cuộc họp này, họ quyết định kinh phí và bầu Ban tổ chức điều hành lễ. Ban tổ chức được thành lập và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên (Ban cung phụng chuyên lo việc tổ chức, tiếp khách; Ban dự tế chuyên lo cúng kiến).

      Trước thời gian tổ chức lễ hội các tàu thuyền đánh cá tập trung về neo đậu gần bờ, tất cả tàu thuyền đều treo cờ Tổ quốc, nhân dân tổng dọn vệ sinh nhà cửa, đường phố, bãi biển và nơi diễn ra lễ hội. Nhân dân và các chủ phương tiện tình nguyện đóng góp tiền của, công sức để tổ chức lễ hội.
      Vào ngày 10 tháng Giêng, nhân dân dựng rạp, lều trại ở tại Lăng Ông, công việc phải hoàn thành trước ngày 25. Đến trưa ngày 25 tháng Giêng, lễ Cầu ngư chính thức bắt đầu.
      + Phần lễ gồm : Lễ vọng, Lễ Nghinh Ông, đại tế, xây chầu hát lễ.
      + Phần hội được tổ chức các cuộc thi truyền thống như : Đua ghe, bơi lội, lắc thúng, kéo co, hát tuồng… 

      Đây là một lễ hội hoành tráng, đầy không khí trang trọng thiêng liêng song cũng vô cùng dân dã, thể hiện vẻ đẹp truyền thống của người dân vùng biển.

       Lễ Cầu Ngư ở phường Mân Thái, có từ thời Cảnh Hưng (1740 - 1786), nhưng đến đầu thế kỷ thứ XIX, thời Gia Long (Nhà Nguyễn) lễ Cầu Ngư mới phát triển và được duy trì cho đến ngày nay. Trong lễ Cầu Ngư ở Mân Thái, đồng bào vẫn còn giữ được các nghi lễ có tính truyền thống xưa, về ăn mặc, sắc phục áo quần, mũ mão, giữ theo lối cổ, nhất là áo quần của các học trò, chánh lễ và nhất xướng, nhất độc (người xướng và người đọc văn tế), cũng như các làn điệu hát chèo Bã trạo (ngày nay chỉ thay đổi từ ngữ cho phù hợp với đời sống hiện tại, nhưng các làn điệu vẫn giữ nguyên như xưa).Trong những năm gần đây vấn đề “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể” được Đảng và nhà nước rất quan tâm, do đó việc bảo tồn và phát huy lễ Cầu Ngư của quận Sơn Trà, một trong những lễ hội dân gian, là một việc làm hết sức cần thiết, nhằm giữ gìn vốn văn hoá truyền thống, trong sự nghiệp xây dựng, đổi mới và phát triển quận Sơn Trà hôm nay.
 

 
 
 
 
 
 
 

 
 
 
 
 
 

 

 

  

 

 

 

 

 
 
 
 
 
 
Website Các Đơn vị

 
 
 
 
 
 
Video
Vui lòng cài đặt Flash Player để xem được Video
 
 
 
 
 
 

Cần cài đặt Flash Player để xem

 
 
 
 
 
 
Lượt truy cập
Số người đang online: 89
Lượt truy cập: 3899683
 
 
 
 
 
 
 
© 2009 Bản quyền UBND quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng
Chịu trách nhiệm: Nguyễn Tự - Chánh Văn phòng  UBND Quận Sơn Trà
Điện thoại: (84 511) 3944 049 * Fax: (84 511) 3944 053
Email: quansontra@danang.gov.vn
Designed by Da Nang ICCO